Phân tích bài thơ Tây Tiến như thế nào để không bị bỏ ý, lập dàn ý như thế nào cho đúng chuẩn? Tây Tiến là bài thơ hào hùng về người lính cách mạng, hình tượng nghệ thuật, giá trị nội dung hay chính thông điệp mà Quang Dũng muốn gửi gắm là gì? Để giúp bạn có thể phân tích bài thơ Tây Tiến chuẩn và hay nhất, bên dưới đây chúng tôi sẽ chia sẻ cho bạn mẫu dàn ý cùng 10 mẫu bài phân tích tuyển chọn để bạn tham khảo.

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ tây tiến của quang dũng

Dạng văn phân tích lad dạng văn khá quen thuộc, để phân tích tác phẩm chúng ta sẽ phải nắm được nội dung cũng như phần kiến thức về tác giả, nghệ thuật làm nên thành công cho tác phẩm và ngay sau đây là nội dung cần nắm vững.

*
Phân tích bài thơ Tây Tiến hay nhất

Mục lục

Tóm tắt kiến thức cần nhớ bài thơ Tây Tiến – Quang DũngDàn ý bài phân tích bài thơ Tây TiếnMẫu bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến hay nhất

Tóm tắt kiến thức cần nhớ bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng

Tác giả, tác phẩm

Khái quát về Quang Dũng

– Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây nay là Hà Nội, ông là nhà thơ nổi bật trong thế hệ những nhà thơ miền Bắc của Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến sau cách mạng tháng tám.

– Tác phẩm chính: Mây đầu ô (thơ 1986), thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988)

– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: ngoài sáng tác thơ, ông còn viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa – đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình. 

– Năm 2001, Quang Dũng được truy tặng giải thưởng Nhà nước cao quý về văn học và nghệ thuật.

– Các bài thơ nổi bật trong sự nghiệp thơ ca của ông như: Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Quán bên đường, Linh râu ria.

Tác phẩm

Tây tiến là bài thơ được sáng tác năm 1948, tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ, được in trong tập Mây đầu ô (1986).

– Tây Tiến là tên gọi của một đơn vị phần đông là thanh niên Hà Nội được thành lập năm 1947. Các chiến sĩ trong đoàn quân có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào nhằm chống lại âm mưu xâm lược của bọn thực dân Pháp.

– Năm 1948, ông rời khỏi binh đoàn Tây Tiến và chính nỗi nhớ binh đoàn da diết ấy ông đã viết nên bài thơ Nhớ Tây Tiến tại Phù Lưu Chanh. Sau này bài thơ được đổi tên thành Tây Tiến.

Bố cục

Bài thơ gồm 04 đoạn với những mục đích và nội dung thể hiện riêng:

– Đoạn 1 (từ đầu đến câu 14): Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ và mỹ lệ.

– Đoạn 2 (tiếp theo đến câu 22): Kỷ niệm của người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan tại Mộc Châu.

– Đoạn 3 (tiếp theo đến câu 30): Hình ảnh người lính Tây Tiến hào hoa và tình quân dân thắm thiết, mặn nồng.

– Đoạn 4 (4 câu cuối): Sự khẳng định nỗi nhớ da diết và lời hẹn ước của tác giả

Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Giá trị nội dung

Qua nỗi nhớ Tây Tiến, tác giả đã vẽ nên hình ảnh người lính đầy lãng mạn, hào hoa vô cùng dũng cảm, gan trường và giàu lòng yêu nước. Vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng cũng được hiện lên với sự hùng vĩ dữ dội, hiểm nguy nhưng cũng đầy chất thơ, lãng mạn.

Tác phẩm không chỉ là nỗi nhớ khắc khoải mà còn ẩn trong đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu đồng đội, tình yêu nhân dân và lớn lao hơn cả là tình yêu đất nước to lớn luôn có mặt trong từng câu chữ, ý thơ của Quang Dũng.

Giá trị nghệ thuật

– Bút pháp lãng mạn, đậm chất hào hùng, bi tráng được thể hiện nhiều trong bài thơ để lột tả những nét độc đáo, đặc biệt của Tây Tiến và Tây Bắc.

– Phép phóng đại, đối lập kết hợp những yếu tố cường điệu; hình ảnh và ngôn từ độc đáo, giàu trí tưởng tượng, thể hiện một tư tưởng mới lạ mang phong cách riêng của tác giả.

Dàn ý bài phân tích bài thơ Tây Tiến

*
Mẫu dàn ý phân tích bài thơ Tây Tiến đầy đủ và rõ ràng

Dàn ý chi tiết số 1: Phân tích bài thơ Tây Tiến đầy đủ

Mở bài

– Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).

– Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.

Thân bài Một số nét khái quát

– Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.

– Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.

– Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.

Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc

– Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.

– Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:

+ Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;

+ Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên … dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.

+ Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.

+ Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.

+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.

+ Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, gập ghềnh của địa hình.

– Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông …”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em …”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.

– Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.

– Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.

Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc

– Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:

+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng với màu sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.

+ Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

– Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:

+ Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”

+ Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

– Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.

Hình tượng người lính Tây Tiến

– Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.

– Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.

– Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:

+ Sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.

+ Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.

– Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.

Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả

– Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.

– Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến … / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Kết bài

– Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ

– Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.

Dàn ý chi tiết 2: Phân tích Tây tiến chi tiết

 Dàn ý phân tích “Tây Tiến” – Quang Dũng

1.1 Mở bài

Cách 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm

Tác giả: Quang Dũng (1921-1988), là thế hệ thơ tài năng, trưởng thành trong thời kháng chiến chống Pháp, một nhà thơ có tâm hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn, tài hoa.

Tác phẩm: Tây Tiến là bài thơ thể hiện tình cảm của tác giả với đoàn quân Tây Tiến-đơn vị quân đội mà tác giả từng tham gia trong những tháng ngày kháng chiến chống Pháp, phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt-Lào.

Cách 2: Dẫn dắt từ những câu thơ viết về người lính

Nhìn lại những trang thơ thời kháng chiến chống Pháp ấy ta mới thấy một quá khứ hào hùng biết bao nhiêu, những người lính, người bộ đội cụ Hồ đã rời bỏ người mẹ già, người vợ trẻ, đứa em thơ để ra đi bảo vệ Tổ Quốc. Hình ảnh đoàn quân trong kháng chiến đã được in dấu sâu đậm trong nhiều trang thơ, trong đó có bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng-một tác phẩm có nét bi tráng hào hùng cùng cảm hứng lãng mạn làm say đắm bao thế hệ người đọc.

Thân bài

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948, trong một buổi ngồi ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông), ngồi nhớ lại thời gian hoạt động ở Tây Tiến trước khi cả đại đội trở về thành lập trung đoàn 52, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này.

Bài thơ lấy cảm hứng từ những tháng ngày năm 1947, khi Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây Tiến, đoàn quân có nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt Lào trước quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam. Đó là những tháng ngày gian khổ, khắc nghiệt, những người lính phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau nhưng khi đã khoác chung màu áo lính, họ cùng nhau vượt qua những gian khổ và vẫn giữ được nét hào hoa, thanh lịch của người Hà thành.

Bố cục: Bài thơ gồm 8 đoạn thơ, gắn với những hình ảnh khác nhau của người lính Tây Tiến

Phần 1: Khổ 1 + 2 + 3: Cuộc hành quân của người lính Tây Tiến giữa vùng rừng núi, thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội.

Phần 2: Khổ 4 + 5: Kỉ niệm đẹp của người lính Tây Tiến với người dân miền Tây trong quá trình hoạt động.

Phần 3: Khổ 6 + 7: Chân dung cụ thể người lính Tây Tiến

Phần 4: Khổ 8: Lời thề của người lính Tây Tiến.

Cảm hứng của bài thơ: Bài thơ có hai nguồn cảm hứng chính là cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng, cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy trữ tình của nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên miền Tây vừa hùng vĩ, thơ mộng, hoang sơ, cảm nhận vẻ đẹp của con người miền Tây, cảm nhận được tinh thần hướng đến cái cao cả, sự lạc quan, lí tưởng của người chiến sĩ bộ đội cụ Hồ.

Chất bi tráng của bài thơ được thể hiện bằng một giọng điệu tráng lệ, hào hùng chứ không hề bi lụy. Chất lãng mạn và bi tráng chính là nét đẹp tạo nên sự độc đáo của bài thơ.

Phân tích bài thơ

– Khổ thơ đầu tiên:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

+Cảm xúc bao trùm trong bài thơ là nỗi nhớ Tây Tiến của tác giả, chính vì vậy mà ngay ở trong câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã không kiềm chế nổi cảm xúc mà thốt lên “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” . “Sông Mã” là con sông chảy qua vùng biên giới Việt Lào, là con sông gắn bó với người lính, gợi nhắc tên con sông cũng chính là gợi nhắc những kỉ niệm đã từng rất thân thiết, gắn bó. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi tha thiết, thốt lên từ tận đáy lòng, thể hiện một nỗi nhớ da diết về một thời đã xa không thể nào quay trở lại nữa.

+Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần, lần đầu tiên là gợi về chủ thể của nỗi nhớ là núi rừng miền Tây Bắc, lần thứ hai là tính chất của nỗi nhớ “nhớ chơi vơi”. Vần “ơi” được lặp lại 3 lần tạo lên nhạc tính trong thơ, gợi nỗi nhớ mênh mông, không thể đong đếm, nỗi nhớ luôn đầy ắp khôn nguôi.

+Những địa danh cụ thể được nhắc tới “Sài Khao” “Sương Lấp” gắn với hình ảnh của đoàn quân ở từng thời điểm hành quân, từ sáng sớm tới đêm khuya. Đây đều là những địa danh mà người lính đã từng hành quân đi qua, nỗi nhớ thương gắn với từng hình ảnh, “đoàn quân mỏi” gợi lên sự gian nan, vất vả trong quá trình hành quân.

– Khổ thơ thứ hai:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, cùng với điệp từ “dốc”đã gợi lên sự khó khăn, hiểm trở, gập ghềnh, đứt đoạn của những con đèo, con dốc vùng rừng núi Tây Bắc, đồng thời gợi ra những khó khăn, gian khổ của người lính.

+ Nghệ thuật nhân hóa “súng ngửi trời” cùng nghệ thuật đảo ngữ “heo hút cồn mây” gợi ra cảm giác hoang vắng, trống trải ở những nơi người lính đã đi qua, đồng thời gợi ra vị trí đứng của người lính với cây súng trên vai là một vị trí cao, trên đỉnh đèo, núi.

+ Nghệ thuật điệp từ cùng nghệ thuật đối “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” một lần nữa gợi lên sự trắc trở trên con đường hành quân của người lính. Câu thơ dường như bẻ gẫy, gợi ra độ cao chót vót, độ sâu hun hút của vực thẳm, con đường hiểm trở, khó khăn vô vàn, bất cứ lúc nào cũng có thể mang lại nguy hiểm cho người lính. Thế nhưng câu thơ lại đậm chất nhạc, làm cho sự hiểm nguy ấy đã giảm đi nhiều lần, một phần cũng bởi vì những trải nghiệm ấy giờ chỉ còn trong miền kí ức của tác giả, một người đã đi qua nó nên mọi thứ đều trở nên nhẹ nhàng hơn.

+Câu cuối của khổ thơ toàn thanh bằng, âm điệu ngân vang, gợi ra hình ảnh cơn mưa miền rừng núi vừa chân thực, những xóm làng phía đằng xa như ẩn hiện trong làn mưa tuôn ấy.

– Khổ thơ tiếp theo:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

+ Hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân “dãi dầu không bước nữa” “gục lên súng mũ bỏ quên đời”, cách nói nhẹ nhàng về sự ra đi của người lính, cách gọi “anh bạn” người lính, người đồng đội của mình là cách gọi thân thiết, gắn bó. Hình ảnh thơ gợi chất bi tráng,vẻ đẹp của người lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, như một giấc ngủ thanh thản, bỏ quên cuộc đời.

Mở rộng: 

“Nằm lại những chân rừng đầu núi

Hôm nay bao đồng chí đâu rồi?”. (Ngày về Nguyễn Đình Thi)

hay: 

“Tôi nhớ thương người bạn cũ

Miệng cười mắt nhắm nghìn thu”. (Chính Hữu)

hay trong bài thơ của Hoàng Lộc: 

“Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ”

+Những hình ảnh tiếp theo gợi lên sự hiểm nguy mà miền núi rừng miền Tây mang lại, cảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tiềm ẩn biết bao nguy hiểm, có thể lấy đi tính mạng người lính bất cứ lúc nào “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”. Hiểm nguy là vậy nhưng cách nói của Quang Dũng lại gợi lên nét tinh nghịch, coi hiểm nguy nhẹ nhàng, như một sự bông đùa.

+Nhưng cuối cùng, những hình ảnh mà người lính cụ Hồ nhớ nhất vẫn là hình ảnh ấm áp của cuộc sống của con người vùng rừng núi miền Tây, với những nét đẹp bình dị nhất “cơm lên khói”, “thơm nếp xôi”.

Khổ thơ tiếp theo, tình cảm gắn bó với thiên nhiên và con người miền Tây

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

+Một bức tranh ấm áp, lung linh, rực rỡ sắc màu được vẽ lên, đây chính là đêm hội tưng bừng, sôi nổi, mọi người, mọi cảnh vật đều đắm chìm trong một niềm vui say, ngây ngất, rạo rực.

+Hình ảnh người con gái miền Tây đẹp dịu dàng, e ấp, câu thơ đậm chất lãng mạn, hai chữ “kìa em” là cái nhìn say đắm, đồng thời cũng là sự say mê của những chàng trai hào hoa nơi thành thị với nét đẹp hồn nhiên của người con gái nơi đây.

– Khổ thơ tiếp theo: cảnh sông nước miền Tây

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

+Không gian sông nước miền Tây hiện lên với hình ảnh “hồn lau nẻo bến bờ” và “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” , dòng sông mênh mông

+Hình ảnh con người trên dòng sông hiện lên qua dáng vẻ “dáng người trên độc mộc” , đó là dáng hình mềm mại, uyển chuyển, thành thạo trong công việc hàng ngày nơi miền sông nước. 

+Bức tranh toàn cảnh được nhìn từ một điểm nhìn cao xa, vẻ đẹp của thiên nhiên như hòa quyện với vẻ đẹp con người.

– Khổ thơ tiếp theo: khắc họa chân dung người lính Tây Tiến

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+Ngoại hình: ngoại hình khác thường do hoàn cảnh chiến trường nghiệt ngã, người lính “không mọc tóc”, da dẻ xanh xao, do thiếu thốn vật chất, cuộc sống kham khổ lại bị bệnh dịch hoành hành.

+”Mắt trừng” là hình ảnh thể hiện nét oai phong của người lính, cái nhìn nảy lửa với quân thù. Nhưng mỗi đêm về, người lính ấy lại có nét lãng mạn, trữ tình, nhẹ nhàng “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” là hình ảnh của người yêu, của người con gái Hà thành duyên dáng, xinh đẹp.

Mở rộng: Nỗi niềm nhớ mong Hà Nội còn được thể hiện trong bài thơ “Ngày về” của Nguyễn Đình Thi:

“Hà Nội chiều nay mưa tầm tã

Ta lại về đây những phố xưa

Nước hồ Gươm sao xanh dịu quá

Tháp Rùa rơi lệ cười trong mưa

Ta nhìn hai mắt ta nhìn mãi

Lòng ta như lửa đốt dầu sôi”

=> Người lính hiện lên vừa có vẻ đẹp của sự kiên cường, khao khát chiến thắng, đánh tan quân thù, vừa có một tâm hồn đầy mơ mộng, có nỗi nhớ quê hương, nhớ những người thân yêu nơi quê nhà.

– Khổ thơ tiếp theo: hình ảnh bi tráng về cái chết của người lính nơi chiến trường:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

+Đây là hiện thực tàn khốc của chiến tranh, biết bao người con của dân tộc Việt đã phải bỏ mạng nơi chiến trường, đối với người lính Tây Tiến lại còn là những sinh mạng ở nơi “viễn xứ”, không được ngã xuống nơi quê hương đất mẹ yêu dấu mà phải bỏ mạng nơi biên cương xa xôi.

+Từ “rải rác” chính là một nét bi thương bởi số lượng người lính phải bỏ mạng nơi chiến trường nhiều vô kể. 

+Câu nói khẳng định: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” chính là tâm thế của tất cả những người lính sẵn sàng ra nơi chiến trường để bảo vệ Tổ Quốc lúc bấy giờ. Họ chấp nhận rời bỏ quê nhà yêu dấu, nơi có những người yêu thương nhất, sẵn sàng dành cả tuổi trẻ, sức lực, quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời để ra nơi chiến trường.

+Mở rộng: những chàng trai “chưa trắng nợ anh hùng” ấy được Chính Hữu khắc họa lại trong bài ngày về:

“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm 

Rách tả tơi rồi, đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”

+Hai câu thơ tiếp theo đậm chất bi tráng, những người lính gục ngã bên đường không có nổi một mảnh chiếu để che thân, cách nói “áo bào thay chiếu” vừa là hình ảnh thực gợi nỗi bi thương, vừa thể hiện sự thiêng liêng, cách nói giảm nói tránh “anh về đất” làm giảm đi nỗi đau, một cái chết nhẹ nhàng về với đất mẹ.

+Hình ảnh sông Mã xuất hiện lần 2 trong bài thơ cùng khúc ca bi tráng “gầm lên khúc độc hành”, dường như sông núi hùng vĩ cũng thấu hiểu nỗi đau của con người khiến cho bức tranh những người anh hùng dân tộc hiện lên càng hào hùng giữa thiên nhiên dữ dội, đầy âm hưởng.

=> Cái chết của người lính Tây Tiến có sự chứng kiến của núi sông, đất trời, khúc nhạc bi tráng, cái chết dường như đã trở nên bất tử.

– Khổ thơ cuối cùng

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

+Câu thơ tả thực, nhưng lại đậm chất lãng mạn, trữ tình “Tây Tiến người đi không hẹn ước, người lính một khi đã ra trận sẽ không dám hứa hẹn ngày trở về bởi ai cũng hiểu sự khắc nghiệt, dữ dội của chiến trường, không ai có thể lường trước điều gì. Đường đi ra chiến trường xa xôi, gợi lên sự chia phôi, không biết ngày trở về, giống như trong thơ cổ từng viết “nhất khứ bất phục hoàn”.

+Mở rộng: Trong bài thơ “Tống biệt hành” , Thâm Tâm cũng viết về những cảm xúc khi người lính phải rời xa gia đình, xa quê hương để ra trận.

Trong một bài thơ khác “Bộ đội về làng” (Hoàng Trung Thông) đã được Văn Phụng phổ nhạc: 

“Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi

 Các anh đi đến bao giờ trở lại.”

+Mùa xuân ấy chính là thời điểm lịch sử, mùa xuân năm 1947 thành lập đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ khẳng định sự gắn bó với binh đoàn Tây Tiến, nhà thơ khằng định những ai đã ở trong binh đoàn Tây Tiến năm ấy sẽ luôn nhớ mãi về những kỉ niệm không thể nào quên được ấy.

Kết bài

Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

Giá trị nội dung: Bài thơ là nỗi nhớ của tác giả về binh đoàn Tây Tiến, những tháng ngày gắn bó với thiên nhiên và con người miền Tây, gắn bó với đồng đội, cùng nhau trải qua gian khó, không thể nào quên được. Nhà thơ đã vẽ lên vẻ đẹp bức tranh Tây Tiến vừa hoang sơ,hùng vĩ, vừa tráng lệ, thơ mộng, đậm chất trữ tình, người lính Tây Tiến vừa kiên cường, vừa lãng mạn, hào hoa.

Giá trị nghệ thuật: Với bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, hình ảnh thơ phong phú, gần gũi, chân thực, ngôn ngữ thơ linh hoạt, đa dạng với nhiều biện pháp tu từ, Quang Dũng đã viết lên một bài thơ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.

Dàn ý phân tích khổ 1 Tây Tiến (14 câu đầu)

*
Dàn ý chi tiết cho phân tích theo đoạn (khổ) bài thơ Tây Tiến Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Quang Dũng

– Giới thiệu bài thơ Tây Tiến

Thân bài:

– Hai dòng thơ đầu: Nỗi nhớ bao trùm, mạch cảm hứng chủ đạo của bài thơ

“Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân thương ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.

“Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của những người lính từ phố thị.

=> Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải lạc lõng trong lòng tác giả.

– Hai câu thơ tiếp:

“Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở rộng sang các không gian khác trong bài thơ.

Nỗi nhớ ở đây dường như dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi một nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.

Những kỷ niệm nhỏ như sự “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc hoa bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao của tác giả.

– Bốn câu thơ tiếp “Dốc…xa khơi”:

Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của người lính chiến khi hành quân.

“Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến trong gian khổ.

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự bình yên, chốn dừng chân cho người lính.

– Hai câu thơ “Anh bạn…quên đời”:

Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.

Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng đội.

– Bốn câu kết đoạn: “Chiều chiều…nếp xôi”

Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc của ác thú.

Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ tha thiết, nồng nàn, nhớ tình quân dân ấm nồng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu.

Kết bài:

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Dàn ý phân tích khổ 2 Tây tiến

Mở bài:

– Giới thiệu đôi nét về tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến

– Khổ 2 Tây Tiến thể hiện một thế giới lãng mạn và trữ tình ở vùng Tây Bắc với những kỉ niệm đẹp.

– Trích thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

……

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Thân bài:

– Sơ lược về đoàn quân Tây Tiến

– Đôi nét về tác phẩm Tây Tiến

– Hai câu thơ đầu:

+ “Doanh trại”: nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan, nghiêm khắc

+ Động từ “bừng”: ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ

+ “Hội đuốc hoa”: mang màu sắc tình yêu (từ chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng, vừa rạng rỡ

+ “Kìa em”: Ngỡ ngàng, kinh ngạc, trìu mến

+ “Xiêm áo”: Trang phục đẹp đẽ, xinh xắn

– Hai câu thơ sau:

+ “Khèn”: nhạc cụ mang bản sắc riêng của Tây Bắc

+ “Man điệu”: điệu nhạc, điệu múa mang âm hưởng Tây Bắc

+ “E ấp”: sự ngại ngùng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc

+ “Xây hồn thơ”: vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của tâm hồn người chiến sĩ

– Bốn câu thơ tiếp theo

+ Chiều sương”: hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữ dội ở đầu bài

+ “Ấy”: đại từ khiến hình ảnh buổi chiều sương trở nên đặc biệt

+ “Hồn lau”: Tả dáng lau qua màn sương, đồng thời đem lại linh hồn cho cây cỏ

+ “Nẻo bến bờ”: Nẻo- hướng đi, lối đi. Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la

+ Điệp ngữ: “Có thấy-có nhớ” thể hiện nỗi lưu luyến, nhớ nhung da diết

+ “Dáng người trên độc mộc”: Dáng vẻ uyển chuyển, thướt tha với sự làm duyên của cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.

+ “Dòng nước lũ – hoa đong đưa”: Hình ảnh tưởng chừng đối lập mà hài hòa nên thơ

=> Bút pháp gợi mà không tả

Tổng kết:

– Ngòi bút tài hoa,tinh tế nhưng không kém phần lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng

– Tình cảm của tác giả dành cho thiên nhiên và con người Tây Bắc cùng với các kỉ niệm đẹp.

Kết bài:

– Suy nghĩ, tình cảm của em Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến .

Dàn ý phân tích khổ 3 Tây Tiến

Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

– Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích và trích dẫn đoạn thơ trên.

Thân bài Khái quát chung

– Hoàn cảnh sáng tác: Là bài thơ sau khi tác giả rời xa đơn vị cũ. Cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến và viết nên bài thơ Tây Tiến.

– Nội dung bài thơ: Là nỗi nhớ về chiến trường, về con người, về thiên nhiên Tây Bắc bằng cả tấm chân tình của chính tác giả.

Vị trí đoạn trích: Là đoạn thơ thứ ba trong mạch cảm xúc của toàn bài thơ.

Nội dung đoạn trích: Chân dung người lính Tây Tiến với sự hi sinh bi tráng của họ.

Những nội dung cần phân tích

– Chân dung: Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không hề né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mãnh liệt của người lính Tây Tiến

– Tâm hồn hào hoa, lãng mạn, và kiêu hùng: Qua các ngôn từ thơ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” ta thấy được khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến.

– Lí tưởng cao đẹp: Không trốn tránh hiện thực “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên.

Nghệ thuật

– Bút pháp tả thực khắc họa chân dung người lính với hiện thực gian khổ nơi chiến trường; dùng từ Hán – Việt cổ kính để tăng thêm sự thành kính, trân trọng với người đã khuất; nói giảm để thể hiện lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong chiến đấu, khắc họa sự hi sinh, nhấn mạnh sự mất mát nơi chiến trường

– Nhận xét: Với giọng thơ trang trọng, đôi lúc lắng xuống, cảm xúc dạt dào, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp bi tráng, tạc vào lòng người như bức tượng đài bất tử về người lính không thể nào quên.

Kết bài

– Khẳng định, đánh giá về những câu thơ trên.

– Mở rộng vấn đề: Nêu suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về hình ảnh người lính Tây Tiến được thể hiện qua đoạn thơ trên.

Mẫu bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến hay nhất

Mẫu 01: Phân tích bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng tuyển chọn

*
Mẫu văn phân tích tác phẩm ngắn gọn, hấp dẫn nhất

Thiên nhiên núi rừng Tây Bắc thơ mộng trữ tình là thế nhưng ẩn sau đó là vẻ hoang sơ với đầy những hiểm nguy đang rình rập. Trước cảnh hùng vĩ của non nước, hình tượng người lính Tây Tiến của Quang Dũng hiện lên như một tượng đài bất diệt, mang vẻ đẹp vừa hùng tráng vừa tài hoa lãng tử của những người con Hà thành. Bài thơ Tây Tiến đã tái hiện chân thực lại sự tàn khốc của chiến tranh, những gian lao vất vả mà người lính phải trải qua trên chặng đường kháng chiến. Thế nhưng chưa bao giờ họ lùi bước trước khó khăn thử thách, những người lính vĩ đại ấy vẫn sống lạc quan yêu đời và chiến đấu anh dũng kiên cường.

Quang Dũng (1921 – 1988) tên thật là Bùi Đình Diệm, quê gốc ở Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông là người nghệ sĩ đa tài vừa viết văn, làm thơ lại biết cả vẽ tranh, soạn nhạc. Thế nhưng nhắc đến Quang Dũng trước hết phải một nhà thơ tài hoa, giọng thơ ông vừa hồn nhiên, tinh tế lại không kém phần lãng mạn hào hoa, đặc biệt là khi ông viết về người lính Sơn Tây của mình. Những sáng tác chính của ông gồm có: Mây đầu ô (1986), Thơ văn Quang Dũng (1988). Năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, tại Phù Lưu Chanh ông đã viết nên bài thơ Nhớ Tây Tiến sau đổi tên thành Tây Tiến và được in trong tập thơ Mây đầu ô.

Mở đầu bài thơ tác giả đã tái hiện lại khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ mà mĩ lệ cùng với cuộc hành quân gian khổ của binh đoàn Tây Tiến. Những người lính trẻ chẳng ngại hiểm nguy họ cứ tiến về phía trước với tinh thần hồn nhiên, lạc quan của tuổi trẻ:

 “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! 

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi 

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi 

Mường Lát hoa về trong đêm hơi 

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời 

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống 

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi 

Anh bạn dãi dầu không bước nữa 

Gục lên súng mũ bỏ quên đời! 

Chiều chiều oai linh thác gầm thét 

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói 

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt tác phẩm đó là nỗi nhớ da diết của tác giả khi nghĩ về những kỷ niệm xưa, tại đơn vị cũ của mình. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” câu thơ cất lên như tiếng lòng nhà thơ, tiếng gọi tha thiết đầy tiếc nuối và chứa đựng đầy những hoài niệm trong quá khứ huy hoàng. Nhà thơ nhớ Tây Tiến bằng nỗi nhớ “chơi vơi” thật da diết, mênh mông và sâu nặng. Nỗi nhớ luôn thường trực, bao trùm lên cả không gian và trái tim người lính.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên thật sống động với những địa danh “sông Mã”, “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông”, “Mường Hịch”, “ Mai Châu” đây là những địa danh gắn bó với binh đoàn, là địa bàn hành quân của những người lính Tây Tiến. Một vùng đất xa xôi, hiểm trở nhiều lần tưởng chừng như làm lu mờ ý chí chiến đấu của người lính cụ Hồ, “sương lấp đoàn quân mỏi” địa hình núi cao cùng với những lớp sương dày đặc phủ kín lối đi, đoàn quân đang mệt mỏi giờ đây lại phải đối diện với cái lạnh cắt da của Tây Bắc. Địa hình núi non hiểm trở “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” đoạn đường đi cũng chẳng bằng phẳng dễ dàng, có đoạn lên cao gập ghềnh khúc khuỷu, có khi lại “thăm thẳm” như vực sâu chỉ cần một phút lơ đãng người lính có thể bỏ mạng ngay tức khắc. Sương dày che lấp tầm nhìn, đường đi nhỏ quanh co lại thêm sự trơn trượt của mặt đất, đoàn quân vẫn đi trong gian khổ từng hạt mưa phùn rơi xuống phảng phất cái lạnh buốt. Quang Dũng vận dụng nghệ thuật đối lập một cách tài tình để miêu tả sự dữ dội của núi rừng Tây Bắc “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” những câu thơ sinh động đầy sáng tạo gợi ra trước mắt người đọc khung cảnh cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang vắng, bí hiểm với đầy rẫy những hiểm nguy “oai linh thác gầm thét”, đêm đêm “cọp trêu người”.

Quả là một nơi “rừng thiêng nước độc” thế nhưng những khó khăn ấy cũng chẳng thể nào cản bước chân người lính, họ vẫn đi với sự anh dũng kiên cường và trong đôi mắt người lính thì miền Tây Bắc lại là một vùng đất thơ mộng trữ tình và chứa chan tình người. Những hình ảnh “hoa về trong đêm hơi”, “mưa xa khơi” thật huyền ảo tạo xúc cảm thư thái, nhẹ nhàng cho người đọc. Người dân miền Tây hiện lên thật giản dị, nghĩa tình, họ gắn bó với cách mạng, yêu thương che chở cho những người lính Tây Tiến.

Quang Dũng miêu tả thiên nhiên núi rừng rộng lớn mênh mông, hiểm trở như thế chính là để làm nổi bật lên hình tượng người lính trên chặng đường hành quân gian khổ, hy sinh của họ. Đoàn quân đã đi ròng rã nhiều ngày liền họ thật sự đã kiệt sức, lúc này đây “đoàn quân mỏi” cần được nghỉ ngơi để lấy lại sức lực, tinh thần bước tiếp. Hình ảnh “anh bạn dãi dầu không bước nữa” là cách nói giảm, nói tránh của Quang Dũng, có những người lính đã hy sinh nơi chiến trường chẳng thể nào bước tiếp cùng với đồng đội. Tác giả nhắc đến cái chết một cách gián tiếp để tránh gây nỗi đau quá sâu sắc, làm giảm đi ý chí chiến đấu của đoàn quân. Những người lính thật đáng khâm phục họ sẵn sàng hy sinh quên mình cho Tổ quốc, họ trẻ trung ngang tàn và rất yêu đời “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết nhẹ tựa lông hồng chẳng thể làm người lính run sợ, tâm hồn họ vẫn bay bổng tinh nghịch xen lẫn sự lãng mạn tài hoa.

Những khổ thơ tiếp theo tác giả gợi nhớ về những kỷ niệm đẹp, sâu nặng của tình quân và dân trong những đêm liên hoan tưng bừng náo nhiệt:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 

Kìa em xiêm áo tự bao giờ 

Khèn lên man điệu nàng e ấp 

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ 

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 

Có nhớ dáng người trên độc mộc 

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.” 

Binh đoàn Tây Tiến gắn bó với chiến trường suốt nhiều năm trời, có biết bao kỷ niệm hằn sâu trong tâm hồn mỗi con người. Sau những ngày chiến đấu vất vả, gian lao “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” những chàng trai cô gái nắm tay nhảy điệu nhạc “e ấp” của dân tộc thiểu số vùng cao. Vẻ đẹp của con người nơi đây thật lung linh, bí ẩn có chút hoang dại làm say đắm tâm hồn biết bao người lính trẻ hào hoa, lãng tử nơi Hà thành. Cùng với đó là cảnh sông nước Tây Bắc một chiều sương thật lãng mạn nhưng phảng phất nét buồn, như nỗi khắc khoải lo lắng của nhà thơ trước vận mệnh của dân tộc, trước tình hình chiến sự đang đến hồi cam go quyết liệt

Đoàn binh tiếp tục cuộc hành quân chiến đấu, những người lính được tác giả khắc họa như những tượng dài hiên ngang bất diệt, chân dung họ hiện lên với vẻ đẹp vừa bi tráng lại rất tài hoa, lãng mạn:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc 

Quân xanh màu lá dữ oai hùm 

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ 

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 

Áo bào thay chiếu, anh về đất 

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Chất bi tráng lẫm liệt được thể hiện với khí thế ngút trời “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” đây là một hình ảnh dữ dội và hết sức mạnh mẽ của người lính, dù ở trong rừng sâu đối diện với căn bệnh sốt rét hoành hành, da có xanh nhợt đi vì bệnh tật thì chưa bao giờ họ thôi quyết tâm, kiên cường chiến đấu. Người lính khoác trên mình bộ quân phục màu xanh lá mang theo bao ước mơ, hy vọng vào một tương lai tươi sáng, một đất nước không còn bóng quân thù. “Mắt trừng”, “dữ oai hùm” thể hiện khí thế ngang tàn, mạnh mẽ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ. Thế nhưng đau xót thay, người lính Tây Tiến cũng có khi bỏ mạng nơi chiến trường “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, những nấm mồ vô danh nơi biên giới họ nằm xuống khi tuổi đời còn quá trẻ, bỏ lại cả tương lai, bỏ lại cả mẹ già đang trông ngóng nơi quê hương yêu dấu. Người lính thật đáng trân trọng, họ hy sinh cho Tổ quốc mà chẳng một phút nao núng sợ hãi “chẳng tiếc đời xanh”. Sự ra đi của họ khiến cho trời đất phải tiếc thương đưa tiễn, dòng sông Mã lại xuất hiện cuối bài như tấm lòng trân trọng của nhà thơ muốn gửi gắm tiễn đưa người lính ở những phút giây cuối đời, những người lính vô danh ấy đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khốc liệt.

Chân dung người lính còn được tác giả miêu tả qua vẻ hào hoa, lãng tử. Họ đều là những chàng trai thành phố vì nghiệp lớn mà rời bỏ nơi nơi phồn hoa đô thị. Những chàng ấy đang còn tuổi trẻ rạo rực với những mộng tưởng, khát khao yêu đương “gửi mộng qua biên giới”, họ mơ về những cô gái Hà Nội xinh đẹp, dịu dàng như nàng Kiều. Tất cả tạo nên một hình ảnh người lính trẻ trung, yêu đời với những khát khao hạnh phúc mãnh liệt của tuổi trẻ.

Đoạn thơ cuối vang lên mạnh mẽ, quyết liệt như lời khẳng định quyết tâm của đoàn binh, đó cũng là lời thề trung thành với tổ quốc sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc:

“Tây Tiến người đi không hẹn ước 

Đường lên thăm thẳm một chia phôi 

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy 

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Người lính Tây Tiến kiên cường, tự tin thể hiện một tinh thần chiến đấu đầy nhiệt huyết “người đi không hẹn ước”, họ ra đi chẳng hẹn ngày trở lại, đi với khí thế sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cho tổ quốc, cho độc lập dân tộc. Dù biết chặng đường có “thăm thẳm” chia phôi thế nhưng người lính đã thề với đất nước một lời thề sắc son “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Tâm hồn người lính dường như đã vượt qua những mơ ước cá nhân tầm thường, giờ đây họ mang trên vai mình trọng trách sứ mệnh vô cùng to lớn: Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh cho độc lập dân tộc.

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc nhất góp phần đưa tên tuổi Quang Dũng lên một tầm cao mới của nghệ thuật. Với ngòi bút tài hoa, lãng mạn của mình Quang Dũng đã xây dựng thành công hình tượng người lính vừa bi tráng vừa tài hoa, hai chất thơ ấy không thể tách rời mà hoà quyện vào nhau tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Hình tượng thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ được xây dựng làm nền góp phần tô đậm vẻ đẹp của người lính Tây Tiến lạc quan, yêu đời.

Mẫu 02: Phân tích bài thơ Tây Tiến đặc sắc nhất

*
Phân tích bài thơ Tây Tiến hay, hấp dẫn

Trong nền thơ ca kháng chiến Việt Nam giai đoạn 1945 -1954, Quang Dũng là một trong những nhà thơ tiêu biểu. Ông là một nhà thơ đa tài, nổi bật hơn cả là lĩnh vực thơ văn với tập thơ nổi tiếng “Mây đầu ô”, trong đó đặc sắc hơn cả là bài thơ Tây Tiến.

Bài thơ Tây Tiến thể hiện nỗi nhớ của nhà thơ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ mà lãng mạn, yên bình:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bài thơ mở đầu bằng một nỗi nhớ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

 Nhà thơ gọi tên sông Mã – con sông chảy qua một số tỉnh miền tây Thanh Hóa, là con sông gắn liền với cuộc trường chinh của người lính Tây Tiến. Bởi thế cho nên trong cảm nhận của nhà thơ con sông như một chứng minh lịch sử, một người bạn đồng hành trong suốt cuộc hành trình. Nhưng giờ “sông Mã xa rồi…” tất cả những kỷ niệm của một thời bão lửa đã lùi xa vào dĩ vãng. Tuy vậy nỗi nhớ về đồng đội vẫn luôn nóng hổi, tươi nguyên như ngày nào để rồi tác giả phải thốt lên “Tây Tiến ơi”. Nhà thơ gọi tên đoàn quân Tây Tiến như gọi tên những người thân yêu ruột thịt nhất của mình. Chỉ một từ “ơi” ấy thôi người đọc như cảm nhận được những cảm xúc dồn nén, những nỗi nhớ niềm thương tha thiết, cháy bỏng của nhà thơ. Cùng với nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến là nỗi nhớ về rừng núi thiên nhiên: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Chỉ một dòng thơ thôi nhưng với điệp từ “nhớ” ta như thấu hiểu những cảm xúc trong lòng nhà thơ. Nhà thơ nhớ về cảnh sắc thiên nhiên, nhớ về nơi in dấu bao bước chân của đoàn quân Tây Tiến với nỗi nhớ “chơi vơi”. Quang Dũng thật tài tình khi đong đầy tất cả những cung bậc tình cảm, cảm xúc trong nỗi nhớ ấy. “Nhớ chơi vơi” ấy là nỗi nhớ không rõ nét, không xác định, khó nắm bắt, một nỗi nhớ khiến con người ta có thể thoát khỏi thực tại để chìm đắm trong những kỷ niệm ngày xưa. Trong ca dao cũng từng có những nỗi nhớ như vậy:

“Ra về nhớ mãi chơi vơi”

Hay Xuân Diệu cũng từng viết:

“Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

Tuy vậy nỗi nhớ “chơi vơi” trong thơ Quang Dũng lại có sức ám ảnh thật lớn, đọng lại trong lòng người đọc một ấn tượng không phai nhòa. Hai câu thơ mang chút gì đó bâng khuâng, hoài niệm gợi lại những kỷ niệm thân thương. Ta như thấu hiểu hơn tâm hồn của một nghệ sĩ, Quang Dũng dường như đang bứt mình khỏi thực tại để đắm chìm trong những nỗi nhớ “chơi vơi”.

Từ nỗi nhớ ấy, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện về:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

Biết bao địa danh được nhắc đến trong bài thơ, đã từng có ý kiến cho rằng: “những tên đất, tên làng, bao cái tên đọc lên mà muốn khóc”, đó là nơi đã in dấu bước chân mà đoàn quân từng đi qua mỗi một vùng đất, địa danh như nhân chứng sống cho cuộc hành trình của đoàn quân. Từ câu thơ trên ta như hình dung được thật rõ nét cuộc hành trình. Đoàn quân Tây Tiến đi trong sương mù dày đặc của núi rừng, hình ảnh họ như chìm đi, ẩn hiện trong lớp sương huyền ảo. Hình ảnh “sương lấp” gợi sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu miền tây. Trong suốt cuộc hành trình của mình họ phải đi trong sương mù dày đặc do đó không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi.

Nếu như câu thơ trên nhà thơ đặc tả hoàn cảnh khắc nghiệt của thời tiết thì câu dưới lại phác họa vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên và tâm hồn người lính:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Quang Dũng quả thật tài tình trong việc sử dụng từ ngữ. Nếu như bao người nói hoa nở thì nhà thơ lại nói “hoa về”, đó là một sự nhân hóa độc đáo khôn cùng. Những đóa hoa xuất hiện trong “đêm hơi”, lạ lẫm thay, sao không phải là đêm sương? Phải chăng nếu trong đêm sương lạnh giá ta sẽ không thể nhìn thấy hoa. Để rồi, nhà thơ để hoa về trong “đêm hơi”. Qua hai chữ “đêm hơi” ta như hình dung ra một không gian lung linh huyền ảo của núi rừng nơi đây. Trong không gian ấy hoa muôn sắc màu trở nên đẹp hơn, lộng lẫy hơn. Hai câu thơ như hai nét vẽ tương phản thể hiện hai cực điểm nổi bật của mảnh đất miền Tây khắc nghiệt thật đấy nhưng thơ mộng đẹp đẽ vô cùng. Và có lẽ những người lính Tây Tiến hẳn phải tinh tế, lãng mạn lắm mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp của núi rừng nơi đây, Những khó khăn của hoàn cảnh sống không làm mất đi ở họ nét phong phú trong thế giới tâm hồn. Như vậy, bốn câu thơ đầu của bài thơ đã thể hiện được cảm xúc của “Tây tiến” nhớ cảnh bao nhiêu thì nhớ người bấy nhiêu, đặc biệt là nỗi nhớ đồng đội – những con người đã cùng nhau vào sinh ra tử, xông pha nơi trận mạc bão bùng.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Bốn câu thơ được đánh giá là những câu thơ tuyệt bút, thể hiện sự tài hoa của Quang Dũng, phối thanh, gieo vần, sử dụng từ láy. Đồng thời đó chính là bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội vô cùng. Trong câu thơ thứ nhất mật độ thanh trắc dày đặc đã tạo nên cái trúc trắc, không bằng phẳng trong từng câu chữ. Phải chăng đó là cái gập ghềnh uốn khúc của con đường. Các cặp từ “dốc” gợi hình ảnh những con dốc trùng điệp, gian nan, khó nhọc vô cùng. Và nếu như “khúc khuỷu” gợi những con dốc trắc trở gập ghềnh thì “thăm thẳm” không chỉ gợi độ cao mà còn gợi chút gì đó lạnh lẽo heo hút bởi độ cao của vực sâu. Đường hành quân gian nan biết bao, ta như nghe thấy từng hơi thở gấp gáp, nhọc nhằn của những người lính. Họ đi trên đường hành quân mà như đang bồng bềnh giữa biển mây, mũi súng chạm trời. Câu thơ không những gợi độ cao mà còn thể hiện chút gì đó tinh nghịch, hồn nhiên, hóm hỉnh đầy chất lính. Con đường giờ đây bỗng trở nên xa tít, nhưng chưa hết: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Nhờ thơ đặt dấu phẩy giữa câu thơ hay chăng là một dụng ý nghệ thuật, dấu phẩy ấy khiến cho câu thơ như gập làm đôi để ta hình dung về một con đường gấp khúc với muôn vàn gian nan trắc trở. Câu thơ được viết với thủ pháp nghệ thuật đối lập độc đáo. Con đường như gấp khúc ngàn thước, ngàn thước…. Lên cao thì cao tít tắp mà xuống thì khiến người ta chóng mặt vì một bên là dốc cao thẳng đứng một bên là vực thẳm không giới hạn. Rõ ràng thiên nhiên Tây Bắc rất giữ dội, nó như thử thách lòng quả cảm, ý chí sắt đá của con người. Người lính Tây Tiến hẳn rất can trường, dũng cảm thì mới vượt qua những khó khăn ấy. Câu thơ dường như tả cảnh nhưng để tô đậm tầm vóc ý chí người lính Tây tiến.

Nếu như ba câu thơ trên được gieo nhiều thanh trắc thì câu dưới lại được tạo nên bởi hàng loạt thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Những người lính Tây tiến đôi lúc dừng chân trên cuộc hành trình. Họ dừng chân để hướng con mắt nhìn về những ngôi nhà sàn của nhân dân nép mình trong những triền núi, thung lũng sâu xa. Đâu đó trên đường hành quân, những người lính nhìn thấy những ngôi nhà sàn hình ảnh ấy dường như mang lại sự ấm lòng cho những người con nơi chiến trường gian khổ. 

Quang Dũng đã miêu tả rất chân thực cuộc hành quân của những người lính. Dường như những tên đất, tên làng kia đã trở nên quá đỗi thân thuộc với họ. Để rồi hình ảnh những người lính hiện lên thật ấn tượng.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

Đã từng có người cho rằng, trong hai câu thơ này người lính gục súng mà ngủ nhưng cũng có ý kiến cho rằng người lính “không bước nữa” ấy là họ hi sinh. Đặt trong chỉnh thể ta nên hiểu những người lính đã hi sinh. Sự hi sinh ấy của họ thanh thản, nhẹ nhàng. Với họ chết chỉ là đôi bàn chân không bước nữa, chết chỉ là chìm sâu vào giấc ngủ. Người lính ở đây hi sinh trong tư thế hành quân: mũ vẫn trên đầu, súng vẫn cầm trên tay. Dường như ta đã từng bắt gặp người lính hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ:

“Và anh chết khi đang đứng bắn

Máu anh phun như lửa đạn cầu vồng”. (Lê Anh Xuân)

Tuy chìm đắm trong tư thế hi sinh đẹp đẽ của những người lính nhưng hình ảnh cảnh sắc thiên nhiên miền Tây Bắc vẫn ám ảnh trong tâm trí nhà thơ:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Thiên nhiên miền Tây được miêu tả qua âm thanh của tiếng thác gầm thét tiếng cọp trêu người, hai câu thơ gợi sự dữ dội của chốn rừng thiêng nước độc, thâm sâu cùng cốc. Đặc biệt với những từ láy chỉ thời gian “chiều chiều, đêm đêm” người đọc dường như thấu hiểu phần nào nỗi khó khăn gian nan vất vả mà người lính Tây Tiến phải trải qua. Thiên nhiên miền Tây Bắc càng khắc nghiệt bao nhiêu thì những người lính càng can trường bấy nhiêu. Quang Dũng đẫ viết về cuộc hành quân của những người lính Tây Tiến bằng chính sự thấu hiểu của một người từng trải.

Xem thêm: Soạn Bài Lựa Chọn Trật Tự Từ Trong Câu Luyện Tập ) (Chi Tiết)

“Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Trên đường hành quân người lính nhớ những bữa cơm ấm áp tình đồng đội, nhớ tới hương vị của tình quân dân. Mùa thơm nếp xôi quấn quýt, vấn vị vào tâm trí con người. Dường như trong câu thơ của Quang Dũng ta vẫn cảm nhận được mùi thơm của nếp xôi, kỷ niệm đã qua rồi mà như vẫn còn tươi mới đây thôi.

Hai câu thơ khép lại với hình ảnh núi cao vực thẳm, mùi hương thơm của nếp xôi vương vấn để mở ra một thời gian khác trong đoạn tiếp theo:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo từ bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhác về Viên chăn xây hồn thơ”

Đêm hội tràn đầy ánh sáng, ánh sáng của những bó đuốc như bông hoa lửa trong đêm tràn đầy màu sắc, nhộn nhịp, rộn ràng âm thanh của tiếng khèn man điệu. Nếu như cảnh sắc thiên nhiên miền tây gợi cái heo hút thâm u của núi rừng thì giờ đây tất cả đã lùi xa. Những người lính được chìm đắ